Quy định mới về đánh giá, xếp loại cán bộ, công chức viên chức

18/08/2020 10:38 AM


Chính phủ vừa ban hành Nghị định 90/2020 về đánh giá, xếp loại chất lượng cán bộ , công chức, viên chức (CB-CCVC). Việc đánh giá, xếp loại chất lượng cán bộ, công chức, viên chức sẽ căn cứ vào các tiêu chí về chính trị tư tưởng; đạo đức, lối sống; tác phong làm việc; kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao...

 Thay đổi một số quy định về đánh giá, xếp loại cán bộ, công chức viên chức trong năm 2020.

Nghị định có 1 số nội dung đáng chú ý sau:

1. Về nguyên tắc đánh giá, xếp loại chất lượng CB-CCVC

- Phải bảo đảm khách quan, công bằng, chính xác, không nể nang, trù dập, thiên vị, hình thức; bảo đảm đúng thẩm quyền quản lý, đánh giá CB-CCVC.

- Việc đánh giá, xếp loại chất lượng phải căn cứ vào chức trách, nhiệm vụ được giao và kết quả thực hiện nhiệm vụ, thể hiện thông qua công việc, sản phẩm cụ thể.

Đối với CB-CCVC lãnh đạo, quản lý phải gắn với kết quả thực hiện nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, đơn vị được giao quản lý, phụ trách.

- CB-CCVC có thời gian công tác trong năm chưa đủ sáu tháng thì không thực hiện việc đánh giá, xếp loại chất lượng nhưng vẫn phải kiểm điểm thời gian công tác trong năm, trừ trường hợp nghỉ chế độ thai sản.

Đối với CB-CCVC nghỉ không tham gia công tác theo quy định của pháp luật trong năm từ ba tháng đến dưới sáu tháng thì vẫn thực hiện đánh giá nhưng không xếp loại chất lượng ở mức hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên.

- Nội dung nghị định cũng đề ra nguyên tắc xếp loại hàng năm với CB-CCVC nghỉ thai sản. Theo đó, kết quả xếp loại chất lượng trong năm là kết quả xếp loại chất lượng của thời gian làm việc thực tế của năm đó.

2. Về tiêu chí đánh giá, xếp loại chất lượng CB-CCVC

Việc đánh giá, xếp loại chất lượng sẽ được căn cứ vào các tiêu chí về chính trị tư tưởng; đạo đức, lối sống; tác phong, lề lối làm việc; ý thức tổ chức kỷ luật và kết quả thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao.

3. Về thẩm quyền đánh giá, xếp loại chất lượng CB-CCVC

Đối với CB thì cấp có thẩm quyền quản lý CB thực hiện việc đánh giá, xếp loại chất lượng CB theo phân cấp quản lý CB.

Đối với CC thì việc đánh giá, xếp loại chất lượng người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị do người đứng đầu cơ quan cấp trên quản lý trực tiếp thực hiện.

Việc đánh giá, xếp loại chất lượng cấp phó của người đứng đầu và CC thuộc quyền quản lý sẽ do người đứng đầu cơ quan sử dụng công chức thực hiện.

Đối với VC thì thẩm quyền và trách nhiệm đánh giá, xếp loại chất lượng VC sẽ thực hiện theo quy định tại Điều 43 Luật Viên chức, gồm:

- Người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập có trách nhiệm tổ chức việc đánh giá viên chức thuộc thẩm quyền quản lý.

-  Căn cứ vào điều kiện cụ thể, người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện việc đánh giá hoặc phân công, phân cấp việc đánh giá VC thuộc thẩm quyền quản lý. Người được giao thẩm quyền đánh giá viên chức phải chịu trách nhiệm trước người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập về kết quả đánh giá.

-  Người có thẩm quyền bổ nhiệm chịu trách nhiệm đánh giá viên chức quản lý trong đơn vị sự nghiệp công lập.

4. Việc xếp loại chất lượng đối với CB-CCVC

Được thực hiện theo bốn mức độ, gồm:

- Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

- Hoàn thành tốt nhiệm vụ.

- Hoàn thành nhiệm vụ

- Không hoàn thành nhiệm vụ.

Các tiêu chí xếp loại chất lượng cán bộ

1. Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ

- Thực hiện tốt các quy định thuộc tiêu chí chung.

- Các tiêu chí về kết quả thực hiện nhiệm vụ theo quy định của pháp luật, theo kế hoạch đề ra hoặc theo công việc cụ thể được giao đều hoàn thành đúng tiến độ, bảo đảm chất lượng, hiệu quả cao.

- Lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành các cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc ngành, lĩnh vực công tác được giao phụ trách hoàn thành tất cả các chỉ tiêu, nhiệm vụ, trong đó ít nhất 50% chỉ tiêu, nhiệm vụ hoàn thành vượt mức.

- 100% cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc thẩm quyền phụ trách, quản lý trực tiếp được đánh giá hoàn thành nhiệm vụ trở lên, trong đó ít nhất 70% hoàn thành tốt hoặc hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

2. Hoàn thành tốt nhiệm vụ

- Đáp ứng các tiêu chí chung quy định.

- Các tiêu chí về kết quả thực hiện nhiệm vụ theo quy định của pháp luật, theo kế hoạch đề ra hoặc theo công việc cụ thể được giao đều hoàn thành đúng tiến độ, bảo đảm chất lượng, hiệu quả.

- Lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành các cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc ngành, lĩnh vực công tác được giao phụ trách hoàn thành tất cả các chỉ tiêu, nhiệm vụ, trong đó ít nhất 80% hoàn thành đúng tiến độ, bảo đảm chất lượng.

- 100% cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc thẩm quyền phụ trách, quản lý trực tiếp được đánh giá hoàn thành nhiệm vụ trở lên.

3. Hoàn thành nhiệm vụ

- Đáp ứng các tiêu chí chung quy định;.

- Các tiêu chí về kết quả thực hiện nhiệm vụ theo quy định của pháp luật, theo kế hoạch đề ra hoặc theo công việc cụ thể được giao đều hoàn thành, trong đó có không quá 20% tiêu chí chưa đảm bảo chất lượng, tiến độ hoặc hiệu quả thấp.

- Lãnh đạo, chỉ đạo điều hành cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc ngành, lĩnh vực công tác được giao phụ trách hoàn thành trên 70% các chỉ tiêu, nhiệm vụ; .

- Có ít nhất 70% cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc thẩm quyền phụ trách, quản lý trực tiếp được đánh giá hoàn thành nhiệm vụ trở lên.

4. Không hoàn thành nhiệm vụ

Cán bộ có một trong các tiêu chí sau đây thì xếp loại chất lượng ở mức không hoàn thành nhiệm vụ.

-  Có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tự diễn biến, tự chuyển hóa theo đánh giá của cấp có thẩm quyền.

- Có trên 50% các tiêu chí về kết quả thực hiện nhiệm vụ theo quy định của pháp luật, theo kế hoạch đề ra hoặc theo công việc cụ thể được giao chưa đảm bảo tiến độ, chất lượng, hiệu quả.

- Cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc ngành, lĩnh vực công tác được giao phụ trách hoàn thành dưới 50% các chỉ tiêu, nhiệm vụ.

- Cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc thẩm quyền phụ trách, quản lý trực tiếp liên quan đến tham ô, tham nhũng, lãng phí và bị xử lý theo quy định của pháp luật.

- Có hành vi vi phạm trong quá trình thực thi nhiệm vụ bị xử lý kỷ luật trong năm đánh giá.

Ngoài ra, Nghị định cũng quy định cụ thể các tiêu chí trong việc xếp loại chất lượng đối với viên chức và công chức.

Nghị định này có hiệu lực từ ngày 20/8/2020./.

                                                                                                                                                                                               Nguồn Bảo hiểm xã hội Việt Nam